Văn hóa uống Trà Thái (trà Tân Cương)
Trà
Thái Nguyên có vị trí quan trọng trong văn hóa ẩm thực Việt Nam. Khi
một người con Thái Nguyên đi xa, luôn tâm niệm trong mình niềm tự hào về
“đứa con tinh thần” của vùng đất.
Khi
du khách đến thăm Thái Nguyên, hãy thưởng thức chè dù chỉ một lần, cái
cảm giác ngây ngất, được đắm mình trong cái ngào ngạt, thơm ngát, nhẹ
nhàng nhưng lan tỏa khắp da thịt, thì lúc đó, bạn đã đến Thái Nguyên rồi
đấy! Nghệ thuật uống chè trở thành một “đạo”, và là một thú vui hết sức
tao nhã và đôi khi hết sức cầu kì. Có thể nói rằng văn hóa uống trà ở
mỗi nơi là mỗi khác, mỗi vùng miền lại có những văn hóa thưởng trà rất
riêng, nhưng chúng ta không thể quên đi, bỏ qua văn hóa thưởng trà của
người Thái Nguyên, bởi đây là cái nôi đã hình thành nên lịch sử của
những cây chè, khi du nhập từ nước ngoài về, cũng từ đó văn hóa uống trà
của người Thái Nguyên hình thành và tạo nên một nét văn hóa mới trong
nghệ thuật uống của người Việt nói chung.
Với
người Thái nguyên uống là một nghệ thuật và là một nét văn hóa cần phải
được quan tâm, họ ý tứ trong từng cử chỉ và dáng điệu, từ cách tráng
ấm, cho trà vào ấm, rót trà mời khách, rồi đến cách cầm chén trà, cách
uống trà, điệu bộ khi uống cũng phải tươi tắn, thoái mái để có thể cảm
nhận được hết cái hương vị ngọt ngào của chén trà. Tất cả những cái đó
đã tạo nên một nét văn hóa đặc trưng riêng và làm nên bản sắc văn hóa
Trà Thái nói riêng và văn hóa Trà Việt nói chung.
Nét văn hóa đặc trưng trong cách thưởng thức Trà của người Thái Nguyên:
Uống
trà là cả một nghệ thuật, không phải ai cũng đều biết được nghệ thuật
uống trà này. Các chân trà nhân Thái Nguyên ngàn xưa và ngày nay vẫn rất
chú ý đến nghệ thuật thưởng thức trà với nhiều loại trà cụ cần thiết,
để làm sao cho người uống cũng có thể cảm nhận và thể nghiệm về trà
giống như các thiền sư, đây cũng là một nét văn hóa rất riêng trong cách
thưởng thức trà của người Thái Nguyên.
Dùng
thìa gỗ hoặc tre múc trà cho vào ấm được gọi là Ngọc diệp hồi cung. Ðể
có được chén trà ngon thì bình trà và tách uống trà phải được làm ấm lên
bằng nước sôi. Ðiều này có dụng ý là giữ cho nước trong bình pha luôn
luôn có độ nóng cao nhất. Trà khô bỏ vào bình loại đất nung nhỏ cao cỡ
1/3 bình. Trà cụ dùng để xúc trà, lấy bã trà đều bằng tre khô hoặc gỗ
thơm. Khi châm nước lần một gọi là Cao sơn trường thuỷ, dùng vòi nước
sôi mắt cua giội từ trên cao xuống nhằm tạo ra một lực làm tan bụi bẩn
trong trà. Người ta châm một ít nước sôi vào bình trà rồi chắt ngay ra,
đổ đi nước đầu này để loại hết bụi bẩn trong trà và trà khô trong bình
kịp thấm không nổi lềnh bềnh nữa.
Trà
nước hai là lần đổ nước thứ hai vào ấm hạ sơn nhập thuỷ, đổ nước cao
tràn miệng bình để khi đậy nắp lại, bọt bẩn trào ra hết, rồi dội nước
sôi lên nắp, cũng nhằm giữ nhiệt độ cao nhất cho ấm trà. Nước hai chính
là nước trà chuẩn nhất được tạo ra trong vòng 60-90 giây này thực sự tạo
ra mùi vị thơm tho tuyệt diệu từ các cánh trà. Khi dùng trà, phải rót
sao cho các chén trà đều có nồng độ như nhau bằng cách kê khít các miệng
chén lại và đưa vòi ấm quay vòng đều các chén. Cách phổ biến trong
truyền thống là rót ra chén Tướng (chén tống) rồi chia đều ra các chén
quân. Cách này ngày nay ít dùng vì phần làm nguội trà, phần hơi mất thời
gian.
Dâng
chén trà theo đúng cách là ngón giữa phải đỡ lấy đáy chén, ngón trỏ và
ngón cái đỡ miệng chén gọi là Tam long giá ngọc, người dâng trà và người
nhận trà đều phải cung kính cúi đầu. Trước khi uống đưa chén sang tay
trái, mắt nhìn theo, sau đó đưa sang phải. Cầm chén uống trà phải quay
lòng bàn tay vào trong, dâng chén lên sát mũi để thưởng thức hương trà
trước, sau đó tay che miệng hớp một hớp nhỏ – Tay áo các quan lại phong
kiến thường rất rộng cũng một phần vì lẽ dùng che miệng khi uống trà là
vậy – Che miệng khi ăn, uống, cười, nói trong chèo, tuồng, trong đời
sống người Việt xưa chính là một hành vi văn hoá. Người uống cũng phải
chậm rãi mím miệng nuốt khẽ cho hương trà thoát ra đằng mũi và đồng thời
đọng trong cổ họng, nuốt nước bọt tiếp lần một, lần hai, lần ba để cảm
nhận.
Đó
là những nét độc đáo trong nghệ thuật uống Trà của người Thái Nguyên,
nét văn hóa đặc trưng ấy đã làm nên một bản sắc bản sắc văn hóa rất
riêng và khác biệt cho những con người nơi đây. Đồng thời nó cũng là
thước đo cho sự phát triển của một nền văn hóa của một dân tộc, một quốc
gia hay một khu vực.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét